Coi mắt

Coi mắt

coi mắt
coi mắt

Coi mắt

Đi được hai phần ba chặng đường, còn một đoạn nữa là về đến nhà, nhưng Phước không thể. Hình như chiếc xe máy cà tàng của anh cần được nghỉ ngơi. Tấp vào quán cà phê bên đường anh tắt máy. Chọn một chiếc võng có chỗ nằm thoáng, gió từ bờ sông thổi lên mát rượi. “Cà phê võng” cái biển hiệu khiêm tốn khuất sau đám dây leo um tùm. Gọi cà phê xong, anh thả người xuống chiếc võng đong đưa, thật dễ chịu.

Đi từ lúc trời chưa sáng, mấy tiếng đồng hồ chạy xe nghe ê ẩm. Cái lưng này cũng tới tuổi rồi. Anh khẽ cười thầm “Cũng như cái xe vậy thôi. Có sử dụng mà không bảo trì, tu bổ thì sẽ rạc đi với thời gian. Cũng may cơ thể con người có khả năng tự tái tạo và chữa lành nên mình còn ngồi đây.”

Dõi tầm mắt dọc theo mé sông. Một đôi uyên ương đang tạo dáng cho phó nhòm chụp ảnh. Thiên nhiên và cách trang trí quán rất bắt mắt, cô dâu chú rể sẽ có một bộ ảnh ngoại cảnh đẹp đây! Tuổi trẻ bây giờ khác hồi thời của anh. Một hình ảnh chợt thoáng qua. Anh cũng đã từng đi coi mắt vợ.

Dòng sông tuổi thơ với con nước đục lờ theo anh lớn lên. Gắn bó và ở lại trong ký ức những bài thơ tình không đoạn kết. Tình yêu của anh đầy trăng sao và không thiếu hương hoa.

coi mắt

Anh đã rời dòng sông quê cùng người yêu đến một chân trời mới. Muốn được như chàng nam chính trong phim ngôn tình ngày ngày chải tóc cho người mình yêu.

Để có cơ hội đó, anh đã đóng trọn các vai diễn trong cuộc đời, từ một anh nhà báo, biên tập cho đài truyền hình đến những công trình vắt vẻo trên cao với dàn giáo. Anh vẽ những họa tiết cuộc đời với chủ đề được đặt trước. 

Có những đêm trong vai anh xe ôm dưới ánh đèn vàng mệt mỏi đường phố, anh đợi khách trong vắng lặng của đêm qua khói thuốc nhuộm vàng đầu tay.

Những bài thơ viết vội trên giấy gói bánh mì vẫn tràn đầy cảm xúc. Phải chi có ai đó mua thơ, để anh bán, chỉ có chị bán bánh mì được đọc thơ anh miễn phí, không biết chị có hiểu những gì anh muốn gởi vào thơ mà thỉnh thoảng thấy chị thở dài cũng có lúc cười tủm tỉm. Chỉ có anh bụng luôn réo lên trong se lạnh!

Gia đình nhỏ của anh đã có một con trai. Anh luôn bên cạnh chăm sóc và có mặt mọi lúc, mọi nơi khi vợ con cần đến. Anh muốn xây lâu đài cho nàng. Sự nỗ lực của anh đã có kết quả. Một ngôi nhà khang trang ấm áp. Không biết anh đã mất đi bao nhiêu thời gian để quên bản thân trong sự miệt mài. Da anh sạm lại. Mắt anh trĩu nặng mỏi mệt. 

Con trai anh giờ đã lớn. Anh cảm giác cô đơn trong căn nhà đó! Vì nàng đã thay đổi quá nhiều, không còn vui khi anh chải tóc. Chỉ thích đếm tiền. Từ đó anh bỏ làm thơ.

Phước trả tiền ly cà phê rồi ra xe tiếp tục cuộc hành trình. Đã lâu anh chưa về thăm cha mẹ. Lòng nôn nao một cảm giác khó tả. Sắp được về nhà, cứ mỗi lần về trong anh lại rộn ràng như thế. Không biết có bao nhiêu lỗi lầm, chỉ cần thấy anh về cha mẹ và các chị em đều rất vui. Gia đình lại bày biện ăn uống sum vầy. Cá dưới sông. Rau sau vườn. Gà ngoài nương.

Đêm, anh đem ghế bố ra trước hàng hiên nằm đếm sao trời. Chỉ ở quê, trời mênh mông không hạn chế tầm nhìn. Một mình với thế giới riêng, anh mơ. Giấc mơ trong đó không có kẻ mạnh hiếp kẻ yếu. Mọi giá trị không được tính bằng tiền, chỉ được đánh giá trên năng lực thực thụ bản thân và tính yêu thương của con người giữa vạn vật. Tiền chỉ là công cụ để trao đổi. 

Anh lại thích có anh hùng. Những người đàn ông trượng nghĩa. Thấy chuyện bất bình là ra tay. Thời đại nào cũng có những người tài đức đủ dũng khí để bảo vệ lẽ phải. Không thể thiếu người phụ nữ dịu dàng, đằm thắm. Sự mềm mại đó như dòng suối mát làm tươi mới sự khô cằn những người đàn ông như anh. Lan man trong ước mơ sắp lại trật tự xã hội, anh xuôi theo cơn gió mát chìm vào giấc ngủ.

Những vì sao trên cao nghiêng mắt nhìn anh. Người đàn ông với tướng nằm co như con tôm luộc, thói quen ghé vào đâu đó chợp mắt trong chốc lát để lấy sức. Một tay gác lên che khuất gương mặt vuông cương nghị với vầng trán hằn những suy tư. Tay còn lại xuôi thẳng, bàn tay mở rộng như tâm tánh anh, chẳng giữ lại cái gì cho riêng mình như cuộc đời này vốn thế. Đến và đi cũng chỉ hai bàn tay trắng.

Đêm lùi dần vào huyễn hoặc riêng mang. Tia nắng đầu tiên lấp lánh giọt sương còn đọng lại nổi bật trên nền xanh từng tảng lá. Giàn mướp rũ những đọt non sau một đêm vươn xa khỏi giàn đong đưa trong gió sớm mai.

Phước bật dậy với tiếc nuối lặng ngắm bình minh. Mùi trà ướp hoa lài của cha thơm nức mũi không cưỡng lại được. Trong góc sân, một nhà chòi lục giác được lợp bằng lá dừa, cha anh ngồi trên bộ bàn ghế gỗ lâu năm bóng láng với tách trà bốc khói trên tay. Thói quen uống trà buổi sáng sớm mấy chục năm nay như là thú vui không thể thiếu cùng những ông bạn già hàng xóm tụ tập đánh cờ, đàm đạo. 

Đã ngoài tám mươi, cha anh vẫn còn minh mẫn. Người ông khô nhưng dáng điệu còn khỏe. Anh hay gọi đùa cha như cây cảnh già trăm tuổi.

Anh bước ra chào cha và ngồi xuống, rót tách trà. Mùi trà thơm khiến anh tỉnh hẳn. Vị chát của trà đọng lại ngọt hậu khiến người uống bắt ghiền. Quay sang anh, cha nhắc chừng “Con chặt quày dừa đặng lát đem qua nhà thím Út, hôm nay giỗ chú Út bây đó.” Anh dạ nhỏ rồi đứng lên. Vườn nhà anh trồng khoảng chục gốc dừa. Những cây dừa cũ cao chót vót nằm cuối vườn. Giống dừa mới bây giờ thấp hơn. Chặt một quày dừa không tốn công sức là bao.

Anh với chị Ba và nhỏ Tám xách giỏ trái cây và quày dừa qua trước, phụ thím Út. Một tay thím cũng vất vả. Con cái ở xa, ngày giỗ mong chúng về kịp là vui rồi.

Đã lâu không có dịp đi lại con đường này. Từ nhà anh đến nhà thím Út chừng mấy công đất đường chim bay. Nông thôn bây giờ cũng thay đổi nhiều. Con đường được tráng nhựa mở rộng hơn. Hàng quán nhiều hơn.

Chỉ một thời gian ngắn mà quá thay đổi. Chỉ có dòng sông, con nước đục lờ anh ngụp lặn mỗi ngày cùng đám bạn là giữ được bóng dáng ngày nào. Anh bồi hồi xúc động. Có điều gì đó anh bỏ sót sao? Ruộng lúa bên đường đang trỗ đòng đòng, mướt màu con gái. Anh đã quay lưng lại với tất cả để làm con thiêu thân lao vào tình yêu bằng lòng chịu chết.

Con người anh là như thế! Yêu cho đến tận cùng.

Vừa chạm ngõ nhà thím Út, mấy con chó chồm lên sủa rân trời. Thím Út trong nhà la vọng ra đuổi. Cái chân cà nhắc vì đau khớp gối khiến thím đi lại khó khăn. Ánh mắt thím sáng lên khi nhìn thấy chị em nhà anh. “Vào đây! Mấy đứa qua thím mừng quá!” Quay qua anh thím đảo mắt từ trên xuống, cười cười nói “Thằng Phước! Bây lâu lắm mới về.”

Căn nhà ba gian chừng lên màu rêu xanh. Mái ngói sậm lại với gió mưa. Bước vào gian giữa là nơi thờ ông bà tổ tiên và cũng là phòng khách. Nhỏ Tám xuống nhà dưới rửa trái cây bày lên đĩa, đặt lên bàn thờ. Thím Út bùi ngùi đốt nắm nhang trầm đưa cho mấy chị em thắp cho chú Út. Không khí như lắng xuống nao lòng. 

Chú Út là y sĩ quân y. Tử trận do mìn. Chú ra đi lúc còn trẻ, mình thím Út nuôi hai con đến khôn lớn không đi bước nữa, dù không thiếu những người đàn ông muốn cùng thím đi hết phần đời còn lại. Phước thở dài, thời gian có vô tình không? Hay tại con người không biết trân quý nó!

“Ngồi uống nước mấy đứa. Công chuyện từ sáng sớm có con hai Mận qua phụ thím mần xong hết ráo.” Nhìn Phước thím tiếp tục “Thằng Phước mày nhớ con hai Mận không? Hồi đó đi coi mắt, phải ưng ý thì giờ đâu đến nỗi! Con người ta vẫn ở không đó!” Anh há hốc miệng với cảm giác rơi hụt hẫng “Có chuyện đó sao?” Thím Út đều giọng kể “Lúc hay tin bây lấy vợ. Hai Mận buồn sinh bịnh một thời gian mới tỉnh hồn. Kể cũng tội nghiệp.”

Hình ảnh hai Mận thoáng hiện lên trong ký ức, mờ nhạt như sự vô tâm của thằng con trai mới lớn háo thắng. Cảm giác nhói buốt. Có phần nào lỗi của anh không!? 

Năm đó Mận mười tám tuổi. Anh hăm hai tuổi. Thím Út là người đứng ra mai mối. Cha Mận mất sớm, nhà chỉ có hai mẹ con, nên muốn Mận lập gia đình và bắt rể, để trong nhà có được người đàn ông.

Anh nhớ bữa cơm hôm đó. Anh rủ bạn bè đi chung cho vui. Cái chính là thích náo nhiệt. Một cô gái có mái tóc dài trong chiếc áo bà ba nổi bật những bông hoa nhỏ trên nền tím cà rất xinh, lấp ló sau cánh cửa buồng không dám bước ra. Những chum rượu gạo đánh đổ mấy chàng trai trẻ. Trí nhớ anh dừng lại đó. Không biết trong cơn men say làm chếch choáng đầu óc, anh có đọc thơ tình cho Mận nghe không? Ôi! Cái tội lỗi tình si, anh có gieo không?

Tiếng thím Út làm anh giật mình trở về thực tại “Nhỏ hai Mận cứ chung tình với thằng Phước, những đám khác dọ hỏi nó không ưng. Mẹ nó riết rồi cũng không hối chuyện chồng con. Nhưng chỉ sợ bà mất đi rồi nó lại một mình rất tội nghiệp. 

Vừa lúc đó, tiếng con chó loẳng quẳng mừng ai đó. Anh tưởng tượng cảnh cái đuôi nó vẩy liên tục rồi nhảy chồm lên. Đó là hình ảnh con Vàng ngày xưa của anh. Thím Út chỉ tay ra ngõ “Hai Mận qua tới!” Cảm giác bối rối không biết nên đối diện như thế nào sau những gì thím út nói làm anh bối rối. 

Anh nhìn ra trước sân. Người phụ nữ đã ngoài bốn mươi, tướng đi nhẹ nhàng, khoan thai, nhan sắc đằm thắm, mặn mà, thon thả trong chiếc áo bà ba xanh nhạt, mái tóc dày búi thấp trông gọn gàng không kém phần duyên dáng.

Có ai đó thắp lửa bên trong anh. Cảm giác chao đảo như cơn sóng đi qua, anh cố níu vào cái bề ngoài lạnh lùng vốn có để giữ chặt tính đam mê vẻ đẹp. Không chỉ riêng sự khả ái của phụ nữ hút anh. Bất chợt một khoảnh khắc bắt gặp nét tuyệt vời giữa thiên nhiên cũng khiến anh lặng đi vì xúc động.

Thấy nhà có khách, Mận đi tránh vô gian bếp. Thím Út gọi giật lại “Mận à! Vào đây con, người quen không chứ có lạ đâu.” Mận bước vô phòng khách, nhìn một lượt. Cô gật đầu chào mọi người rồi ngập ngừng nhìn anh “Anh Phước về chơi?”

Anh khẽ cười lên tiếng “Mận còn nhớ tui ha.” Đôi mắt chợt thoáng buồn vì câu hỏi vô tình. Thay vì trả lời, đôi mắt đó khép lại như giấu kín một linh hồn. Cô đánh trống lảng “Để con xuống bếp mần cho xong công chuyện.” Không đợi thím Út lên tiếng, Mận đã khuất sau cánh cửa.

Anh rít một hơi điếu thuốc cháy dở rồi dụi vào gạt tàn, nghe nóng rát cổ họng. Có phải anh đang hủy hoại thể xác vốn đã mòn mỏi. Đâu là nơi chốn của anh? Sao nghe mất phương hướng như thế này?

Nhà cửa, vợ con hình như không thuộc về anh. Anh như một công cụ. Đến một ngày anh nhận ra cả sự tự do cũng không còn. Tất cả cuộc đời anh như vật hiến tế. Anh đã đặt để một tượng thần rồi bái lạy.  Anh không dám động hay phản kháng, không phải vì nhu nhược.

Những tháng ngày đong đầy yêu thương anh cho hết. Cuộc sống vợ chồng chỉ cần tình yêu. Tờ hôn thú chỉ là giấy. Anh vui với hoa nắng trước sân nhà sớm mai, anh vui khi cuối chiều đem về tổ ấm thành quả công sức lao động của mình.

Anh vui khi vợ mình đứng tên trên một tài sản. Đến một ngày nhìn lại anh chỉ có hai bàn tay trắng.  Có lẽ tình yêu đã bội thực mà chết cùng với tuổi trẻ và công sức của anh.

coi mắt

Anh đi tìm lại mình trong cô đơn, vắng lặng, thèm được như nắng như gió lang thang cùng trời cuối đất. Đã bao lâu rồi anh không làm thơ. Bài thơ tình không có vai nữ chính sao tròn cảm xúc.

Chợt nhớ tới Mận hôm đám giỗ nhà thím út. Anh tìm cách nói chuyện với Mận, như giải mã thắc mắc trong lòng. Những câu bâng quơ qua lại rồi hết chuyện. Anh đánh bạo hỏi thẳng “Mận còn nhớ buổi coi mắt đó không?” Trầm ngâm một hồi Mận lên tiếng “Anh còn nhớ bài thơ hôm đó tặng em không?”Anh giật thót mình tự hỏi bản thân “Có chuyện đó sao?” Lặng đi trong nao buồn, đau thương, anh chưa biết phải xử trí như thế nào! 

Thật khẽ, Mận đọc cho anh nghe bài thơ đã níu giữ Mận cho đến hôm nay.

Bàng hoàng trước những lời lẽ ngọt ngào tình tứ như một thệ ước thủy chung. Đó là men say, sự thoát thai bay bổng cảm xúc của tuổi trẻ. Anh quay lại nhìn Mận thật lâu, cái nhìn hơn nửa đời người anh đã nợ. Anh vô tình đi qua, đùa cợt trước cảm xúc đầu đời một thiếu nữ. Lòng anh chùng xuống như chiều ngoài kia trầm hẳn về đêm. Nợ tình trả sao đây!

Đất ruộng nhà Phước mấy năm nay cho người khác thuê. Đã đến lúc anh trở về với làng quê, làm chủ thửa đất hương hỏa. Tuổi trẻ bồng bột đã lôi anh xuống lưng đồi. Anh phải từng bước trở về nơi bình yên. Tầm mắt anh dõi theo những cánh cò trắng cuối chiều êm ã, với đôi chân mạnh dạn anh đi.

Nhìn dĩa bánh ít trên bàn, anh nhớ hồi còn khỏe mẹ thường gói bánh nhân đậu, nhân dừa. Đã lâu mùi vị vẫn còn trong ký ức anh! “Bánh ít đâu vậy chị Ba?” Tiếng chị Ba ngoài hiên vọng vào “Con hai Mận đem cho đó!” Anh chợt khựng lại, miếng bánh đang ăn như mắc nghẹn nơi cổ.

Uống ly nước để nuốt cho trôi miếng bánh, bước ra vườn sau, mùi ổi chín thơm ngọt. Mùa nào trái đó. Bước đến gốc mận đang mùa ra hoa. Nhìn những chùm hoa khép mình dưới tán lá, dày đặc kín cây. Anh thấy lòng trĩu nặng hình ảnh cô gái ngồi lặng yên nghe người say đọc thơ. Bài thơ dài hơn hai mươi mấy năm vắng lặng.

Đã lâu anh không làm thơ. Khẽ mỉm cười, tự dưng anh muốn viết gì đó trước mùa mận sắp đậu quả!

Lê Yên
Sài Gòn, 29/9/19

Hủ gạo

Hủ gạo

HŨ GẠO
HŨ GẠO

Hủ gạo

Bà Hai ngồi đó, bên mâm cơm chừng đã nguội hết thức ăn, lưng chén cơm trước mặt sao nghe no ngang, toàn những món con trai và con dâu bà thích.

Từ sáng sớm bà đã đi chợ, sơ chế sẵn để tủ lạnh, chuẩn bị cho bữa cơm chiều. Bữa cơm gia đình trong ngày bà cũng thường xuyên một mình đối diện với mâm cơm vì những cuộc đột xuất tiếp khách trong việc làm ăn của con.

Căn nhà trở nên rộng hơn, không một âm thanh. Chan miếng canh vào chén cơm cho dễ nuốt, bà dùng thìa múc từng muỗng một cách thờ ơ, sự va chạm nhỏ cũng tạo nên tiếng vang rất rõ, vọng lại từ nỗi cô đơn xế chiều.

Nhìn thố cơm trắng còn đầy nguyên bà chợt nhớ đến cái hũ gạo ngày xưa. Khi cái lon đong gạo chạm đáy, âm thanh sắc nhọn vỡ ra, xoáy buốt nỗi nhọc nhằn, đè nặng trái tim bà.

Bà ngồi trên chiếc xích đu trước hiên nhà trong ánh sáng nhạt từ phòng khách hắt ra, gió đưa hương những khóm hoa hồng phảng phất êm đềm, lắng dịu của đêm.

Dõi tầm mắt xa xăm qua cánh cổng rào thưa, bà có thể nhìn thấy con đường tấp nập người và xe qua lại. Mọi người vội vã.

Trước đây bà cũng vậy, ra khỏi nhà khi mặt trời chưa mọc, trở về đường phố đã lên đèn. Thỉnh thoảng có ngày nghỉ, bà tìm cơ hội để chào hỏi hàng xóm. Trong bà như có ai đó đốt lửa, một tháng ba mươi ngày, một năm mười hai tháng, như chiếc kim đồng hồ không ngừng nghỉ. Đâu là sức mạnh?

Gần đến cuối đời, nhìn lại những đoạn đường đã qua, mỗi một bước chân đi in dấu tình thương và các con chính là động lực. Nhìn con lớn lên từng ngày, được cắp sách đến trường, cấp một rồi cấp hai, cấp ba, vô đại học. Bà không còn biết đói, biết lạnh, cũng quên mất cảm giác thèm ăn món gì, chỉ suy nghĩ nấu món ngon con thích, ăn no đủ để lớn.

Thời gian như chớp mắt. Mới đó con bà đã khôn lớn. Có thể yên tâm mà hưởng phước tuổi già, không còn lo nghĩ. Bà đã sử dụng thời gian trong ngày của mình với nhiều công việc, không muốn đối diện với khoảng trống.

Vậy nhưng cũng có lúc nằm thừ ra không biết làm gì, lắng nghe cơ thể đau chỗ này, nhức chỗ kia và trong đầu vang lên những câu hỏi: “Bà đã thật sự già rồi sao? Bà đã trở nên vô tích sự hồi nào thế? Sao lại bạc nhược như thế này?”

HỦ GẠO

Cưới vợ cho con trai, bà đã một bước tròn tâm niệm. Có những lúc một mình trong căn nhà vắng vẻ, ngồi trước di ảnh người chồng quá cố, lặng đi với cảm giác trở về thật xa ngày ông còn sống. Nắm tay đi hết đoạn đường đời/Nào ngờ sóng vỗ bão tơi bời/Thuyền nan một mảnh tay chèo ngược/ Thuận với vô thường đợi tới nơi. Bà đã đợi được ngày này. Ngày mà sự an yên cho bà cảm giác cuộc đời đã lãng quên chính mình.

Trời trở gió thổi tung những chiếc lá rụng rơi đầy hàng hiên, lao xao lùa về cuối góc thấp, nép vào đêm yên phận. Bà tựa đầu vào chiếc xích đu, khép hờ đôi mắt, lội ngược dòng trong thế giới tĩnh mịch, trộn lẫn những suy nghĩ mông lung, muốn tách ra, sắp xếp chúng lại ngày hiện tại.

Bà muốn thêm nắng, thêm gió, thêm vận động để ngày sống thêm ý nghĩa. Đời là một chọn lựa, bước xuống hòa mình vào luân chuyển sự sống hay tự nhốt mình trong bốn bức tường với một mặc định già nua, hết thời gian còn lại? Trong bà đã có quyết định.

Có tiếng chuông làm bà giật mình trở về thực tại, bước ra nhìn qua ô nhỏ thấy con về tới, vội mở rộng cửa. Chiếc xe hơi màu đen chạy thẳng vào nhà rồi tắt máy. Bà bước vào phòng khách, bật cái tivi cho vui tai.

Cùng lúc con trai và con dâu bà lên tiếng:

– Con chào mẹ.

Mặt bà tươi tỉnh hẳn lên, liền hỏi:

– Các con có ăn thêm gì không?

Tiếng con dâu trả lời:

– Dạ không.

– Vậy các con tắm rửa rồi nghỉ ngơi cho khỏe.

Con trai quay qua nói với vợ:

– Em lên phòng tắm trước đi, anh chơi với mẹ chút.

Nói rồi nó sà xuống bên cạnh, trong chiếc ghế sopha dài gối đầu lên chân bà, dài giọng:

– Mẹ gãi đầu cho con.

Bà cười khẽ:

– Có vợ rồi còn nhỏng nhẻo.

Miệng nói thế nhưng bà vẫn gãi đầu cho con trai như hồi còn nhỏ. Đầu nhiều tóc, đen mun, ngày xưa bị bạn chọc quê cái đầu tóc rễ tre lúc nào cũng khét nắng, bây giờ đã hớt cao gọn gàng.

***

Thời sinh viên nó vừa học vừa làm, gà-mên cơm mẹ bới cho treo lủng lẳng bên chiếc xe đạp, tới bữa thường ăn chung với bác bảo vệ trong khi các bạn xuống căn tin.

Ra trường ngày làm hai ca, nó cũng như bà trở về nhà khi mặt trời đã đi ngủ. Một ông chủ trẻ nghiêm túc với công việc, ba mươi ngoài mới dẫn cô dâu của mình về ra mắt mẹ. Bà cưới vợ cho con, mong mau có cháu nội cho vui cửa nhà.

Bình minh như một sự chờ đợi, dậy từ rất sớm với thói quen thời vất vả, những người phụ nữ một nắng hai sương thời gian chừng không đủ. Họ làm việc, chợt bàng hoàng không biết trời đang vào khuya hay đã về sáng.

Bên ngoài tờ mờ cảnh vật, chỉ chờ có thế, bà mở cửa bước ra tạ ơn thượng đế một ngày mới. Vươn vai với những động tác thể dục cho máu huyết lưu thông, bà cảm giác thật sảng khoái. Quét sân, hốt lá rụng, bật vòi nước tưới những chậu cây cảnh và tia nắng đầu tiên bắt đầu xuyên qua những giọt nước lấp lánh phản chiếu đủ sắc màu, ánh sáng đó ban phát sự sống, trải dài vô tận.

HỦ GẠO

Nguồn ảnh_ Renny Movita

Các con đi làm, trả lại cho bà không gian lặng yên! Công việc làm thoáng đã xong. Mở tủ lạnh bà ngao ngán: đồ ăn hôm qua vẫn còn nguyên. Thừ người ra, nhớ ngày con còn nhỏ, chẳng có bữa nào là thịnh soạn, sao mà ngon lạ! Bà chỉ tính đủ phần con, còn mình ăn những gì còn lại để không phải phung phí. Vậy mà cái hũ gạo của bà chẳng khi nào đầy.

Bữa ăn là một ân huệ, không chỉ thức ăn mà được cùng ăn với người thân trong yêu thương gắn kết. Uống vội ly sữa, bà thay bộ đồ tươm tất, với tay lấy cái túi xách, bỏ vào những thứ cần dùng, không quên mang theo chai nước lọc. Trong bà nôn nao như thiếu nữ lần đầu đi hẹn hò.

Hôm nay bà định bụng bước ra ngoài kia, nơi con đường dẫn lối không có đích đến, chỉ muốn đi lại những bước ngày xưa với một tâm thái khác. 

Sài gòn với nhiều tuyến xe buýt, phương tiện giao thông giữa các quận, huyện. Từ nhà, bà đi bộ một đoạn ngắn là có trạm. Bà đứng ở trạm chờ thật nhẹ nhàng, như người đi rong chơi, không mang theo một đống hàng hóa như thuở nào trong buổi chợ sớm mai đầy áp lực.

Vừa lúc có chiếc xe buýt ghé vô. Bước lên xe, theo thói quen bà chọn hàng ghế thứ hai sau lưng tài xế, đó là ghế ngồi gần cửa để xuống hàng cho lẹ. Yên vị chỗ ngồi, trả tiền vé, đảo mắt một vòng bà thầm nghĩ “Xe giờ này không đông như xe sớm mai”. Cảm giác thân quen, gần gũi khiến bà cứ tủm tỉm cười.

Chuyến xe ngày cũ của bà thật vội, lên xe hấp tấp, kiểm lại hàng hóa. Nghề làm bếp trong đầu chỉ có thực đơn và nguyên liệu.

Bên ngoài màn đêm với những ánh đèn lấp loáng. Tựa đầu lên thành ghế bà ngủ giấc mộng thường chập chờn tiếp nối, mặc cho xe ghé vô bao nhiêu trạm nhưng khi đến điểm dừng của mình mới bật dậy tỉnh táo, bước xuống xe với lủ khủ hàng hóa.

Trời vừa chớp mắt ưu tư với ánh sáng nhạt, trách bà sao sớm rộn ràng đánh thức. Bà đi cho kịp thời gian, khi sương đêm còn thấm lạnh vai áo, con trăng về muộn, dõi theo bà qua mỗi mùa vơi, đầy nhọc nhằn.

Trở về chiều ở trạm chờ xe buýt, có những hôm thành phố ngập trong mưa mùa, mắt môi tím tái co lại giữa lồng lộng ướt run, bà như manh áo thô trở tứ bề giữa nắng mưa cuộc đời, vá víu yêu thương, hong khô muộn phiền. Khi chuyến xe chuyển bánh mọi địa chỉ lướt qua thật mơ hồ nhưng trong bà đã có đích đến.

Khẽ thở dài, mới đó đã hơn hai mươi năm. Trước đây quá vội với ngày sống bà không còn thời gian quan sát chuyển động chung quanh, không cảm nhận được sự huyền nhiệm từ cuộc sống.

Xe đã vào trung tâm thành phố. Bà xuống xe tại một trạm không định trước, đứng lại định thần nhìn quanh, bước những bước thật chậm, như người ở dưới quê mới lên, hết nhìn bên này lại nhìn bên kia rồi ngửa cổ mút mắt tòa nhà cao tầng, dãy phố với nhiều cửa tiệm bày bán đủ mặt hàng sang trọng, người qua lại tấp nập.

Bà được sống trong một thành phố văn minh, giàu có, tiến bộ mọi mặt, vậy mà trước đây không biết, hay nói đúng hơn những người mưu sinh vất vả, thời gian ngủ còn không có, lấy đâu thưởng lãm cuộc sống… Định bụng mỗi ngày sẽ đi một tuyến đường, muốn nhìn ngắm nơi cho bà đủ cảm xúc để nhớ về hai tiếng gọi quê hương! 

Cho đến một ngày, bà xuống trạm xe buýt, còn đang tần ngần dõi tầm mắt chung quanh. Phía bên kia đường có một quán cơm từ thiện với cái tên “Niềm Vui” gợi sự tò mò.

Chưa vội bước qua, bà ghé vô xe bán nước dạo bên đường ngồi xuống, vừa uống từng ngụm trái dừa tươi, mát lạnh, vừa làm quen hỏi thăm cô chủ. Được biết quán chỉ phục vụ hai ngày giữa tuần. Tiếng cô hàng nước cất lên “Sắp tới giờ cơm trưa rồi, lát bà sẽ thấy người ta đến đông lắm”.

Bà ngồi tám chuyện được một lúc. Quán bên đường bắt đầu có khách đông dần, đa số là dân lao động, không biết họ đến từ đâu? Bà hiểu được cảm giác này. Có phần cơm từ thiện, tiết kiệm được chút tiền. Giữa cái nắng ban trưa, bà nghe nao lòng như đứng trước một chiều thu hiu hắt khiến nước mắt chảy tuôn.

Mang vội mắt kiếng giấu đi cảm xúc của mình, bà thầm nghĩ “Mỗi người chỉ có một cuộc đời, nếu không may gặp bất hạnh, xin có đủ nghị lực để vượt qua và vươn tới”.

Bà đứng lên, không quên cảm ơn cô chủ, mạnh dạn bước qua bên kia đường. Chỉ còn vài người khách sau cùng, quán cơm từ thiện cũng khá rộng. Người đứng gần cửa lên tiếng “Bà dùng cơm?” Một người khác: “Bà vô trong ngồi cho mát.” Ngồi xuống một chiếc bàn gần quầy, bà khẽ nói “Cho tôi ít cơm thôi”.  Vừa ăn bà vừa quan sát: Có tất cả bốn người, họ đều là những người lớn tuổi, căn bếp không được sắp xếp theo đúng quy trình một chiều nên bừa bộn vướng víu. Bà tự cười thầm mình với cái nhìn nghề nghiệp.

Ăn xong bà đánh bạo hỏi thăm người đàn ông đứng ở quầy, chắc cũng trạc tuổi bà, nãy giờ nghe người khác gọi là ông Tư. “Ở đây ông có cần người giúp không?” Bỏ cặp mắt kiếng, ông ngước nhìn bà hồi lâu rồi trả lời: “Ở đây chúng tôi không thuê người làm, như bà thấy đó, bọn già chúng tôi tự làm tất cả”. “Không! Không, ông đừng hiểu lầm! Tôi chỉ muốn giúp! Tôi có thời gian và biết nấu”.

Những người khác nghe bà và ông Tư nói chuyện như hiểu ra. Ai cũng bỏ việc đến bên quầy góp vô mỗi người một câu. Họ là những người bạn đã về hưu, muốn sử dụng thời gian còn lại thật hữu ích.

Họ không muốn tự kỷ ám thị về hai tiếng tuổi già. Không muốn làm gánh nặng tâm lý cho con cái. Nuôi con lớn đó là bổn phận cha mẹ, hãy cho con sự tự do sống cuộc đời của nó.

Chỉ sau thời gian ngắn ngủi nói chuyện, làm quen giới thiệu về nhau, bà với họ như không còn khoảng cách. Sự đồng cảm trong suy nghĩ khiến mọi người xít lại gần nhau. Vẫn là tiếng ông Tư “Được bà chị giúp cho một tay còn gì bằng, nhưng phải cho con biết nhé”. “Ông yên tâm, tôi biết sắp xếp”.

Cảm giác trên con đường trở về khác hẳn lúc đi. Bà tìm cảm hứng cho ngày sống để xua tan sự nhàm chán! Được làm việc, được phục vụ người khác đó là niềm hạnh phúc. Bên trong bà như có ai đang nhóm lửa. Bà không muốn lặng đi trong cái tĩnh mịch thời gian chờ đợi sự chết, chỉ là một chuyến đi về, cứ thuận theo tự nhiên mà đến.

Xuống trạm xe buýt, bà bước chân sáo, lòng khấp khởi vui như cô gái đang xuân. Vô nhà rót ly nước lọc uống một hơi rồi đi thẳng xuống bếp đến bên cái hũ gạo, tâm hồn bà đang chuyện trò cùng hũ gạo.

Bà truyền cảm hứng và niềm vui cho nó! Từ nay nó không phải bị bỏ quên trong xó bếp với số gạo cũ xì, nhạt thếch, cứ phải ôm ấp giữ lấy do những buổi cơm vắng bóng con. Ngày mai bà sẽ đem hết số gạo này đi, để hũ gạo lại được đong đầy tươi mới.

Bà đến quán cơm từ thiện cũng vừa kịp lúc mọi người. Ai nấy rất vui khi thấy bà trở lại. Bà Tám lên tiếng “Chị mang gì nhiều vậy?” Bà cười vui trả lời “Có gì đâu, chỉ một ít gạo và rau”.

Vào căn bếp nhìn quanh một lượt, bà muốn một vài thay đổi cho tiện công việc. Chỉ một loáng là xong (tổ chức bếp là nghề của bà) Nhân lực hôm nay có thêm bà là năm. Được xào, được nấu, nghe lại âm thanh lửa bừng lên từ cái bếp khè, mùi thịt cháy xém gia vị khi chiên thật hấp dẫn.

Bà như linh hoạt hẳn lên không còn cái vẻ trầm mặc thường ngày. Ai nấy đổ mồ hôi sau một hồi làm việc nhưng ánh mắt họ lấp lánh niềm vui, nụ cười rạng rỡ. Ai cũng có cái để cho đi và đó là hạnh phúc. Đến giờ ăn, từng tốp người cứ thế vào quán.

Khách như quen thuộc với chỗ ngồi thường ngày. Năm người phục vụ luôn tay trong thoáng chốc đã hết sạch thực phẩm. Hết giờ, họ ngồi lại bên mâm cơm với những gì còn lại. Những con người tìm vui trong việc phục vụ, ngày qua ngày, sẻ chia từng mẩu chuyện đời có lúc tưởng chừng không qua được.

Hôm nay ông Tư nhắc chừng “Bà Hai! Chị lưu địa chỉ và số điện thoại vào sổ nhé!” Khẽ cười bà lên tiếng “Yên tâm, tôi còn mời mọi người đến nhà tôi một chuyến cho biết.” Nói rồi bà vỗ vỗ vào cái thùng nhựa cứng đựng gạo kế bên “Cái hũ gạo này trách nhiệm không của riêng ai! Tin đi nó không những đầy gạo mà còn nở hoa nữa”. Ông Tư tròn xoe mắt với câu nói bỏ lửng của bà.

Chào mọi người ra về, đứng ở trạm chờ bà nghe nhói ngực trái. Đưa tay lên xoa ngực vẫn là thói quen mỗi khi bà thấm mệt với hơi thở thật nặng nhọc. Mới đó đã tròn một năm kể từ lần đầu tiên bà bước chân vào quán cơm từ thiện “Niềm Vui”.

Tình cảm mọi người dành cho nhau rất tốt. Ở đó bà tìm thấy sự ấm áp như ngôi nhà thứ hai của mình. Xuống xe bà bước đi trong trạng thái không trọng lực. Trái tim bà mơ hồ thổn thức. Bệnh cũ rồi, bà biết có ngày này, cứ thế mà đến sao! Gọi điện cho con, “con trai”, tiếng bà đứt quãng rồi tắt lịm. Không biết bà có kịp nghe ở đầu bên kia tiếng con trai thảng thốt gọi mẹ.

***

Ông Tư và những người bạn ở quán cơm từ thiện đứng lặng trước di ảnh người đàn bà. Những bàn tay run run với nén nhang không đành lòng cho tiễn biệt. Khuôn mặt người trong khung ảnh đang nhìn họ như mỉm cười.

Con trai bà Hai đưa cho ông Tư cuốn sổ tiết kiệm người mẹ để lại cho quán cơm từ thiện.

Đâu đó trong đầu ông lại vang lên: “Cái hũ gạo này trách nhiệm không của riêng ai”.

Những giọt nước mắt không cầm được chảy dài.

Cả một đời nước mắt cứ chảy ngược vào trong như đến giới hạn. Họ muốn được khóc thật to như đám trẻ con phật ý.

Hẹn gặp lại những đóa yêu thương đã nở hoa giữa hũ gạo cuộc đời.

Lê Yên
Sài Gòn, 11/5/2020

Trăng non…

Trăng non…

TRĂNG NON
TRĂNG NON

Trăng non…

Xoan gánh đôi thùng ra đầu giếng làng lấy nước. Giếng làng tồn tại đã mấy đời. Thành giếng được xây bằng những viên đá xanh chồng chéo lên nhau, thẫm màu cùng với rêu xanh từ kẽ đá. Nước trong veo, ngọt lịm. Tới mùa khô, trong làng chỉ có một đôi nhà giếng còn nước. Duy chỉ mạch giếng làng nước có quanh năm.

Nhà Xoan cũng không ngoại lệ. Chiều, sau giờ dạy học trò, việc cô phải làm là gánh cho đầy ba cái lu đựng nước bên hông nhà, để sử dụng cho ngày mai tưới những luống cà sau nương. Cô phe phẩy chiếc nón lá quạt tìm chút gió mát.

Trong lúc chờ đợi tới phiên, tầm mắt cô dõi theo con đường đất thoai thoải bên cánh đồng. Xa xa là những mái tranh xen lẫn mái ngói của làng bên. Chợt nhớ một người. Từ trong sâu thẳm trái tim cô luôn cầu cho nút thắt được mở. Giống câu chuyện truyền lại giữa hai làng. Nó như cái gút làm tắc nghẽn mọi thứ.

Nắng chiều đã dịu bớt, hơi nóng bốc lên từ những luống đất khô, dưới cái nắng gay gắt ban ngày. Xoan xắn quần tưới luống cà, bụi ớt và những gốc cây trái trong vườn. Mặt trời dần khuất về tây, chỉ còn lại ráng chiều đỏ ửng với những sắc tím huyễn hoặc, lạc lõng vài ba cánh chim lẻ đàn về muộn, gọi bầy trong thất thanh chập choạng tối. 

Úp ngược đôi thùng cho ráo, cô qua giàn nước rửa chân, rồi bước lên nhà trên. Cha đã ngồi chờ sẵn. “Dạ, để con dọn cơm”. “Con có thơ của thằng Hữu cha để trong phòng”. Cô dạ nhỏ, đi xuống bếp dọn cơm mà trống ngực đập dồn, hồi hộp, mặt nóng ran.

Cha cô là một thầy giáo trường làng. Xoan là con một. Mẹ qua đời khi vừa sanh cô. Từ lúc có trí khôn cô biết mình chỉ có cha. Sợ cảnh mẹ ghẻ con chồng, cha không đi bước nữa. Tiếng tăm cha vang xa. Những làng lân cận họ cho con đến học với sự tin tưởng. Họ quen gọi cha là ông Giáo.

Bữa cơm dọn lên, Xoan không còn tâm trạng để ăn. Cô nôn nao đọc thơ Hữu. Sự bối rối của cô không qua được mắt cha. “Con ăn cơm đi”. Cô “dạ” rồi gắp thức ăn cho cha. Cô ăn từng miếng nhỏ để cha vui. Tình thương cô dành cho cha là tất cả. Cha thật sự rất quan trọng với cô.

Chờ cha yên vị trên chiếc phản gỗ với cái radio nghe tin tức, cô chạy về phòng. Phong thơ cha để trên bàn, cô cầm lên xé vội.

Thăm Xoan!

Trước hết cho anh gởi lời kính thăm thầy. Thầy và em có khỏe không? Lên tỉnh mọi cái đều mới lạ. Anh nhớ nhà, nhớ em”. 

Từng dòng chữ với lời lẽ ngọt ngào như nhảy múa, cười đùa với Xoan. Cô ép lá thư lên ngực thì thầm: “Hữu, cố lên nghe anh!” 

Hữu là học trò giỏi của cha cô, người làng Đông. Cô làng Tây. Hữu lên tỉnh học nghề. Gia đình anh đơn chiếc chỉ còn mẹ, không có khả năng để tiếp tục học chữ. Hữu tính học nghề để kịp đi làm, phụng dưỡng mẹ và thực hiện nhiều hoài bão trong tâm.

Từ bao đời nay giữa hai làng có một con đường chung ra tỉnh. Từ ngày xảy ra chuyện, con đường đó ngăn đôi bởi ranh giới đất hai làng. Con đường lâu dần trở thành đường mòn vì thưa thớt người qua lại, cỏ mọc um tùm. Bên gốc cây sầu đâu khuất đường cái, có hai ngôi mộ nằm sát nhau cuối con đường.

Những đêm trời trở mưa giông, tiếng rít của gió như tiếng thở than, ai oán từ cõi âm ty vọng về. Đêm, trời mờ mờ trăng non. Tàu lá chuối cong ngược đong đưa như mái tóc dài thiếu nữ hỏng trên mặt đất Rợn người.

Hồi đó, làng Đông nhiều lúa gạo. Làng Tây mùa vụ chỉ đủ ăn nửa năm, còn nửa năm phải đi làm cho làng Đông. Tuy vậy làng Tây lại chuộng việc học.

Cậu ba Tâm làng Đông phải qua làng Tây để học. Cậu là con nhà giàu có tiếng trong làng nhưng trọng chữ tín và lễ nghĩa, không hoang đàng như những công tử con nhà giàu khác. Thơ phú cậu đối đáp trôi chảy không thua gì trai làng Tây. Cậu Ba Tâm phải lòng cô út Mơ xinh đẹp, dịu dàng, bán quán nước đầu làng, sống cùng mẹ.

Tiếng đồn đến tai cha cậu ba, trưởng làng Đông, ông khét tiếng là khó khăn. Vì không môn đăng hộ đối, ông cấm cậu ba qua lại với út Mơ và cho cậu đi du học bên Tây với lời hứa hẹn “Học xong mới cưới vợ”.

TRĂNG NON

Con trăng mồng mười như vừa đủ đồng lõa với đôi tình nhân, họ không muốn rời nhau với quấn quýt yêu thương ngút ngàn. Tình yêu của họ được trời đất chứng giám, hẹn thề, bên gốc sầu đâu mùa trái chín.

Quà cho người đi chỉ chiếc khăn tay, thêu một nhánh hoa bâng khuâng tím như nỗi buồn và nỗi nhớ cách xa. Siết chặt người yêu trong tay, Tâm nói nghiêm túc: “Hãy tin. Anh sẽ trở về.” Cô có linh cảm không hay, chỉ dấu tiếng thở dài. Giữ lại những gì của Tâm với tháng ngày hạnh phúc bên nhau.

***

Cậu Ba Tâm trở về, đứng bên ngôi mộ út Mơ. Nỗi đau ngoài sức chịu đựng, đất dưới chân như sụp xuống, há hốc nuốt chửng cậu. Không còn khái niệm thời gian, không gian. Mưa như nước mắt út Mơ trút xuống, ôm lấy cậu. Gió từng cơn hung hãn trút xuống lá sầu đâu còn xanh oan uổng. Vậy mà cậu giận, cậu oán hận con người chóng thay đổi. Đôi mắt cậu đỏ ngầu, đưa hai tay lên trời đầu hàng số phận. Miệng lẩm bẩm, rên rỉ “trời ơi!” 

Nghe được trở về, trong cậu ngổn ngang trăm mối. Không biết vui hay buồn! Nhưng dù sao cũng phải đối mặt. Bao năm cậu chờ đợi tới ngày này, nhưng khi đặt chân xuống sân bay, cảm giác sợ hãi chạy dọc sống lưng, lòng nóng như lửa đốt.

Con đường qua làng Tây gió lạnh từng cơn, đâu đó mùa Thu đang tới. Cậu đi như chạy đến giếng nước đầu làng, đứng lại hít một hơi thật sâu cho đủ tự tin. Cậu gấp gáp những bước dài đến quán nước. Vẻ đìu hiu của mái tranh ngập lá vàng lắt lay từng cơn gió.

“Sao vắng thế này?” Một vài người khách ngờ ngợ nhìn cậu như người xa lạ. Vừa lúc đó, một người đàn bà lớn tuổi, ốm yếu bước ra. Cậu sững người! Mới có một vài năm sao bác ấy tiều tụy đến không ngờ.

Bà đưa đôi mắt mệt mỏi nhìn cậu lên tiếng “Cậu tìm ai”? “Bác không nhớ con sao? Con là Tâm đây!” Cái ly trên tay rơi xuống vỡ tan tành. Bà run rẩy khụy xuống như không thở được với tiếng lẩm bẩm “Con Mơ!” Cậu dìu bà vào nhà, đặt nằm trên tấm phản cạnh cửa sổ cho thoáng gió, định rót cho bà ly nước.

Ngẩng đầu lên, trước mặt cậu, trên bàn thờ, hình ảnh Mơ sau làn khói nhang phảng phất như đang khóc với ánh mắt trách hờn nhìn cậu. Như rơi chạm phải đáy, tim cậu tan nát. Cậu gục đầu khóc nức nở “Tại sao?” Cậu quay lại bấu chặt người đàn bà chỉ còn chút sức tàn. “Nói cho con biết đi”. Bà kể cho cậu nghe. Mỗi câu, mỗi chuyện như ai đó xát muối tâm can.

Cậu Ba Tâm lên đường được một thời gian ngắn. Út Mơ sốt ruột trông ngóng, không thấy tin tức gì. Lòng cô xốn xang với nỗi nhớ và nhiều lo lắng.

Sau lần chia tay đó. Cơ thể cô ngày một khác đi. Cô đã mang thai. Lo lắng và sợ hãi khiến người cô gầy rộc trông thấy. Không thể dấu mẹ, cô gục đầu trên gối, khóc kể. Xót con dại khờ người mẹ lòng đau như cắt. Đêm đó bà không ngủ được.

Trời chưa sáng hẳn bà đã dậy, đến bên bàn thờ cha út Mơ, đốt nhang khấn vái “Ông thương tình tha thứ và phù hộ cho con, nó trót dại. Tôi đã không để mắt tới con bé, tôi sai rồi!” Đứa con trai lớn đi biền biệt không về, cũng may có cô con gái út bên cạnh.

Đôi vai già nua như gấp lại với gian nan, đau khổ. Người đàn bà vội đứng thẳng người, lau đôi dòng nước mắt. Đi đến cuối căn phòng, những tấm hình, bộ tách trà, lúc sinh thời chồng bà thường đàm đạo với bạn bè và khen tay nghề pha trà của bà không ai qua được.

Tất cả như là báu vật được bà cất kỹ. Chiếc rương như tài sản duy nhất của hai mẹ con. Bà săm soi bộ áo dài được xếp cẩn thận, chỉ dùng để mặc trong những dịp quan trọng.

Hôm đó bà dẫn út Mơ đi qua làng Đông. Bà biết việc bà làm như một sự sỉ nhục và tai tiếng khó gột rửa, nhưng vì sự sống chết của con buộc phải làm. Là một người mẹ bà không thể làm ngơ! 

Con đường từ làng Tây qua làng Đông hôm nay như dài ra, khác hơn mọi ngày bà vẫn đi qua nó một cách nhẹ nhàng. Những bước chân trĩu nặng rồi cũng đến nơi.

Nhà cậu ba Tâm không khó tìm. Mái nhà ngói đỏ ba gian từ xa đã nhìn thấy. Nắm chặt tay con gái bà mạnh dạn tiến về cánh cổng. 

Con ở, chặn lại hỏi: “Bà và cô cần gặp ai”? “Chúng tôi muốn gặp ông trưởng làng”. “Bà chờ ở đây”.

Trước mặt ông trưởng làng bà như biến thành người khác. Một con gà mái mẹ đang bảo vệ con mình khỏi loài diều hâu hung ác có thể xòe cánh, la làng mổ loạn xạ. Bà đang trong tâm trạng đó. Bà nói rành mạch tình trạng của út Mơ và yêu cầu ông trưởng làng cho bà biết tin tức cậu ba Tâm. Bà hụt hơi đứng thở hồng hộc. Út Mơ đứng khép nép sau lưng mẹ như tìm sự che chở.

Ông Trưởng làng ngồi trên chiếc ghế gỗ đen mun, bóng láng. Thằng hầu đứng sau lưng, trong dáng bộ lom khom. Bất thình lình ông vỗ mạnh xuống bàn. Tiếng vỗ làm cho mọi người giật bắn mình. Ông hét lên “Bà đến đây nói chuyện không căn cớ. Bà định bôi xấu gia đình tôi. Phải không? 

Út Mơ lật đật quỳ xuống “Con xin ông. Con có tín vật của anh ba Tâm.” Nói rồi cô lần túi áo lấy ra một bông Mai được chạm trổ bằng đá rất đẹp. Ông trưởng làng bật dậy, giật lấy bông Mai bằng đá trên tay Mơ. “Đây là tín vật của dòng họ nhà ta, cô không tư cách giữ nó. Các người đến đây làm tiền đúng không?” Nói rồi ông quăng nắm bạc trước mặt mẹ con Mơ, hét lên “Thằng Tám đâu! Đuổi họ ra ngoài”.

Không chịu nổi sự sỉ nhục người mẹ dìu con đứng lên và nhìn thẳng mặt người đàn ông hung dữ “Tôi đến đây vì giọt máu của con ông. Nhưng từ nay đứa bé này không còn một liện hệ nào tới dòng họ nhà ông.” Nói xong bà dìu con đi không ngoảnh lại, để cho ông trưởng làng đứng chết trân trong tức tối và dằn vặt rối bời.

Bà chăm sóc và an ủi Mơ trong kế hoạch rời làng đi xứ khác làm ăn, trước khi bụng Mơ to hơn. Chuẩn bị gói ghém đồ đạc xong, bà nhắc chừng Mơ ngủ sớm. Cô xin phép mẹ được đi dạo hóng chút gió.

Trời hôm nay trăng sáng rất đẹp. Mơ bước chậm qua từng khúc quanh, ngã rẽ khuất bóng người. Những hình ảnh như mới hôm qua. Đâu đâu cũng thấy bóng dáng của Tâm. Con trăng dẫn Mơ đến cuối con đường. Một đám mây che mờ ánh sáng vàng của đêm.

Trời chợt đổ mưa! Cô chạy vội vào núp dưới gốc cây sầu đâu. Ký ức với những ngọt ngào. Mơ như tan vào trong yêu thương đầu đời. Mưa không làm cô ướt, gió không làm cô lạnh, cho đến khi giật mình sụt chân dưới nền đất nhão nhoẹt.

Cô thét lên trong khi thân thể lăn theo triền đất với con nước cuốn lấy, cho đến khi có một va chạm mạnh. Cô mơ hồ thấy hình bóng mẹ trong gào khóc “Mẹ ơi! Cứu con.” 

Mơ ra đi oan uổng với đứa con trong bụng. Mộ phần cô chơi vơi trên mô đất cạnh cây sầu đâu già. Người mẹ như chiếc bóng với chút sức tàn, mong một ngày Tâm trở về theo nguyện ước con gái, bà mới yên lòng ra đi. Ngày nào từ sáng sớm bà đã mở cửa quán, mắt dõi về làng Đông với chút hy vọng.

Đã ba mùa thu từ ngày con mất, ánh mắt bà mệt mỏi sau mỗi ngày hướng về bên ấy trước khi sập cánh cửa xiêu vẹo.

Cậu ba Tâm vật vã đau đớn, không thiết ăn uống. Mỗi ngày cậu ở bên ngôi mộ Mơ cho đến tối mịt mới về. Có những đêm say khướt, đám trẻ trong làng còn nghe cậu ngâm thơ ai oán, rồi lăn ra ngủ cạnh ngôi mộ.

Sức người có hạn, một thời gian sau cậu đổ bệnh rồi qua đời. Theo di nguyện, mộ phần của cậu nằm cạnh Mơ bên gốc sầu đâu. Cậu từ bỏ cuộc sống để được gần vợ con. Con người mất đi về mặt thể lý. Tâm linh vẫn tồn tại. Ở một thế giới khác, với yêu thương, cậu tin rằng sẽ đoàn tụ mãi mãi với gia đình.

Trưởng làng Đông cho rằng phong thủy làng Tây đã ám làng Đông nên xảy ra chuyện, ra lệnh cấm trai làng Đông không được quen và lấy gái làng Tây. Nếu ai chống lại thì đi xứ khác sinh sống. Nhưng ông luôn ngồi trong bóng chiều với ngập tràn hối hận, lẻ loi, cô độc.

Trưởng làng Tây cũng không chấp nhận một sự độc đoán đến tàn nhẫn, hại chết người vô tội. Cái chết của Mơ cũng có phần liên đới. Thương người cô thế và bà mẹ già tội nghiệp. Ông giận thói đời cay nghiệt, giận lão già làng Đông, nên đồng ý tuyệt giao! 

Con đường thông giữa hai làng từ đó cắt đôi bởi một hàng rào chia ranh giới đất. Người làng Tây nửa năm mất mùa, đổ đi khắp nơi mua bán, không làm cho làng Đông nữa.

Ít lâu sau người mẹ già cũng qua đời.

Những câu chuyện được thêu dệt từ đó. Không ít người đã kể, có những đêm nghe tiếng ngâm thơ, tiếng cười trong trẻo của con gái, lại tiếng khóc trẻ con. Thế là đủ rồi. Dù là ma hay người vẫn mong một hạnh phúc tròn đầy!

***

Hữu người làng Đông. Ngày được mẹ đưa qua xin thầy theo học. Bà đã không giấu giếm. Cha Xoan là một thầy giáo làng có chút ảnh hưởng Tây học. Ông đã nhận Hữu như bao học trò khác, không phân biệt.

Để Hữu hòa mình với mọi người ông không đề cập đến thân thế của học trò. Với trí thông minh, thêm siêng năng, anh đã được thầy tín nhiệm, yêu thương. Tình cảm giữa Hữu và Xoan không bị cấm cản, chỉ nghĩ cách làm sao để tháo cái gút này.

Đã mấy chục năm rồi còn gì? Những người già đã ra đi gần hết. Mâu thuẫn không ai nhắc tới, nhưng lệ làng khó cãi. Chỉ cần một ai đó đủ mạnh mẽ. Xoan thở dài, pha cho cha ấm trà. Cô ngồi xuống cạnh cha khẽ khàng “Cha à, anh Hữu sắp mãn khóa rồi đó”. Ông Giáo buông cuốn sách trên tay, nhìn con gái mỉm cười “Con lo sao? Cha tin thằng Hữu thông minh sẽ có cách”.

Con đường mòn ít ai đi là nơi hẹn hò của Xoan và Hữu. Câu chuyện được nghe từ nhỏ, không khiến họ phải sợ hãi về những giai thoại ma quái. Họ ngưỡng mộ tình yêu của đôi tình nhân đã khuất và quyết sẽ làm thay đổi chuyện này.

TRĂNG NON

Dưới bóng trăng Xoan tựa đầu lên vai Hữu nghe anh nói về những dự định của mình. Anh sẽ mở một lò rèn ngay phần đất ông bà nội để lại sát ranh giới làng Tây. Giúp người nông dân giữa hai làng không phải lên tỉnh để mua dụng cụ nông nghiệp.

Đêm anh mở lớp học, giúp trẻ em làng Đông thoát mù chữ. Điều quan trọng nhất, làm sao gỡ bỏ cái hàng rào tuyệt giao cỏ mọc um tùm, để người dân hai làng sống chan hòa như trước kia.

Đêm đã khuya, cảnh vật vắng lặng yên bình. Hữu đưa Xoan trở về phía làng Tây, trong lòng tràn ngập một niềm tin.

Anh mơ, rồi đây con đường này sẽ thoáng đãng, đông người qua lại. Hãy nuôi dưỡng những điều tốt đẹp như gìn giữ một que diêm, sẽ đến ngày điều tốt đẹp đó bùng lên tạo ra ánh sáng. Siết chặt tay Xoan, anh hôn lên mái tóc thơm mùi bồ kết nồng nàn. “Tới nhà em rồi.” Cô khẽ cười, kiễng chân hôn lên má người yêu rồi khuất sau cánh cửa.

Mùa khô sắp đến, làng Tây lại thiếu nước. Vì địa thế đất làng cao, các mạch nước cạn nên dễ bị khô hạn. Hữu đem phương án đào kênh thủy lợi dẫn nước vô ruộng bàn với thầy của mình. Phương án được đem ra thực hiện có hiệu quả bất ngờ.

Con người cũng từ bụi đất, được hòa vào thiên nhiên để nghe mùi nắng, mùi gió đưa trong bạt ngàn. Người nông dân không muốn rời bỏ ruộng lúa, nương khoai. Họ thấm đẫm từ trong xương tủy mùi vị quê hương với yêu thương sâu thẳm.

Năm nay thời thời tiết thất thường. Cha của Xoan cứ nhìn trời lo lắng. Mây giông chuyển mấy ngày vần vũ. Mưa bắt đầu trút nước, tới ngày thứ hai vẫn mù mịt. Trời ảnh hưởng bão. Nhà nào cũng leo lên mái dằn nhiều cây gỗ cho khỏi dỡ nóc.

Làng Đông nước bắt đầu dâng. Đã bao năm rồi mới có bão lụt như thế này. Ông giáo cứ nhìn qua làng Đông lo lắng. Nước sẽ lên bao nhiêu?

Không thể thấy chết mà không cứu. Ông bàn với trưởng làng, kêu gọi trai tráng phá hàng rào cho người dân làng Đông qua tránh lụt. Kết hợp với Hữu đưa những nơi thấp nhất di tản. Người dân làng Đông vừa mừng, vừa khóc. Không phải chỉ có nước vỡ bờ, mà yêu thương trong họ cùng vỡ bờ… Họa hay phúc không lường được. Ông giáo rơm rớm nước mắt tạ ơn trời. 

Trời quang mây tạnh.

Hữu và Xoan cám ơn cha đã cho định ngày cưới. Họ cười rạng rỡ, nụ cười cứ nở mãi trên môi. Đám cưới của họ cũng là một bữa tiệc lớn giữa hai làng Đông, Tây. Từ đây họ không phải tránh mặt người làng hai bên. Trẻ em hát hò, người lớn giã gạo, ủ bột làm bánh để cùng chung vui.

Ông giáo cứ tủm tỉm gật gù “Hận thù nên mở”.

Chỉ một con trăng nữa họ đã chung nhà. 

Nút thắt đã được mở.

Lê Yên
Sài Gòn, 15.09.2019